Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

Thâm Tâm với TỐNG BIỆT HÀNH

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Bảy 10 04, 2008 4:14 am    Tiêu đề: Thâm Tâm vá»›i TỐNG BIỆT HÀNH Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

THÂM TÂM VỚI ”TỐNG BIỆT HÀNH”.

Đưa người ta không đưa qua sông.
Sao có tiếng sóng ở trong lòng.
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt.
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? .


Đó là 4 câu thơ mở đầu cho bài Tống Biệt Hành, bài thơ đã làm nên sự nghiệp văn chương của Thâm Tâm.

Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 /5 /1917 tại Hải Dương, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo vá đông con. Sau khi học hết bậc Tiểu học, ông phải ở nhà giúp gia đình đóng sách và nấu bánh kẹo. Khoảng năm 1938, ông cùng gia đình lên Hà Nội sống bằng nghề vẽ tranh Bờ Hồ, làm đồ gốm và bắt đầu viết văn. Ông cộng tác với Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu thuyết thứ năm, Ngày Nay, Bắc Hà.

Sau Cách mạng tháng tám, ông công tác ở Hội Văn hóa cứu quốc và làm Biên tập viên cho tạp chí Tiên Phong. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông nhập ngũ, làm Thư ký tòa soạn báo Vệ Quốc Quân, cơ quan ngôn luận của Quân đội nhân dân VN. ông vừa làm thơ, vẽ tranh châm biếm, viết tin, soạn kịch.

Năm 1950 Thâm Tâm đi chiến dịch Cao Lạng để làm báo ngoài tiền tuyến.

Ngày 18 /8, một cơn sốt rét ác tính đã cướp mất đời ông ở tuổi 33 tại xã Phi Hải, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao bằng.

Lúc đầu, vì dùng văn chương để làm kế mưu sinh nên Thâm Tâm viết nhiều thể loại. Về truyện, ông có Tiểu thuyết Thuốc mê (1943) Đại đội Kim Sơn (1948) .Về kịch có các vở: Sương Tháng Tám (1939) : 19 tháng 8 (viết chung với Trần Huyền Trân); Lối sống; Nga Thiên Hương; Đầu quân vào Nam (1945); Lá cờ máu (1946). Về Tiểu luận có: Văn thơ bộ đội. (1949)

Nhưng, chỉ có thơ mới làm Thâm Tâm nổi tiếng. Thơ của ông để lại không nhiều, khoảng 20 bài, trong đó có bài Tống Biệt Hành đã mang lại cho ông vòng nguyệt quế. Bài thơ nầy thành công nhất, được Hoài Thanh -Hoài Chân tuyển vào cuốn Thi Nhân Việt Nam và người yêu thơ nào cũng biết. Trước Cách Mạng Tháng Tám, thơ Thâm Tâm rất buồn, cái buồn của người bất đắc chí, chỉ biết đi là đi, chia biệt, mong chờ, đượm cái khí thế” trượng phu” thời cổ, hào hùng thì ít, u hoài thì nhiều:

"Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay.
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận...
"

Thâm Tâm buồn vì nhiều lẽ: vì ”sinh bất phùng thời”; vì hoàn cảnh khó khăn; vì bạn bè ly tán:

"Tai hại bao nhiêu sự thực đời.
Trùng lên, dập hết mộng. như người.
Tưởng yên ổn sống trong khung cổ.
Vút tiếng kèn vang nhắc....hiện thời.
"

Sống dưới thời Pháp thuộc, làm dân một nước nô lệ, thơ Thâm Tâm biểu lộ nổi bất bình với thời cuộc, nỗi u uất của thời đại và tâm trạng bế tắc không lối thoát. Nổi đau của Thâm Tâm cũng là nổi đau của những người cùng thế hệ.:

Bọn ta một lớp lìa nhà.

Nhưng trong các Văn thi phẩm của Thâm Tâm chỉ có bài thơ Tống Biệt Hành là có thể đứng mãi được với đời. Bài thơ hay và lạ nầy ”đượm chút bâng khuâng khi hiểu của thời đại” Đã có rất nhiều bài viết về Tống Biệt Hành, hầu hết đều khen nhưng vẫn có chỗ bất đồng ở 3 câu cuối. Có người đã viết ”Nếu kể tên 10 nhà thơ VN lớn nhất, không chắc có Thâm Tâm. Nhưng chọn 10 bà thơ hay nhất khó có thể bỏ qua Tống Biệt Hành". Điều ấy đúng. Bài thơ mở đầu bằng 4 câu rất lạ:

"Đưa người ta không đưa qua sông.
Sao có tiếng sóng ở trong lòng.
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt.
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.
"?

Lạ là ở chổ ý tương phản: Không đưa qua sông sao lại có tiếng sóng? Bóng chiều không thắm cũng không vàng vọt sao trong mắt lại có bóng hoàng hôn? Lạ và hay cũng là ở chổ đó.

Những câu tiếp theo, nói lên chí khí của người ra đi: nếu không thành công thì sẽ không có ngày qui cố hương:

Chí lớn chưa về bàn tay không.
Thì không bao giờ nói trở lại,
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.


Tuy vậy, người ra đi làm sao tránh khỏi nỗi buồn vì còn mẹ già, hai chị và em thơ, những người chân yếu tay mềm, rất cần một đấng nam nhi để làm nơi nương tựa:

Ta biết người buồn chiều hôm trước.
...Ta biết người buồn sáng hôm nay
.

Và đoạn kết, lời lẽ cứng rắn, cương quyết, ly khách quyết lòng dứt áo ra đi:

Người đi ! Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
Chị thà coi như hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say!


Có hai ý kiến trái ngược nhau ở khổ thơ nầy:
Ý thứ nhất cho rằng: Người ra đi coi mẹ như chiếc lá bay coi chị như hạt bụi và coi em như hơi rượu say. Như thế có vẻ dửng dưng và tàn nhẫn quá.

Ý thứ hai cho rằng: thà mẹ coi con (ly khách) như lá bay, chị coi em như hạt bụi và em gái coi anh như hơi rượu say. Ý người ly khách muốn mẹ, chị và em coi mình như vậy để đỡ nhớ nhung, thương tiếc, bận lòng. Ý này dành cho người ra đi một sự thiệt thòi nhưng có thể chấp nhận được nên phần đông ngả về ý kiến nầy.

Ta hãy chú ý cách ví von: chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say đều là những hình ảnh động, (vì hạt bụi cũng bay, càng bay mạnh, còn rượu thì tất nhiên bốc hơi, và biến đi đâu mất) như vậy sẽ không ứng với những người ở lại nhà, tiếp tục sống một cuộc đời tĩnh tại, tù túng, Nếu các hình ảnh ấy vận vào người ra đi, người sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu vô định, dễ thường hợp hơn chăng? Ý nầy nghe ra rất có lý.

Vậy còn người ly khách trong bài là ai? ??



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: CN 10 05, 2008 1:45 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

(TIẾP THEO ).

Có 2 nhân vật được nêu lên:

Theo Ông Ngọc Giao, một nhà văn viết cho Tiểu thuyết thứ bảy cùng với Thâm Tâm thì bài thơ Tống Biệt Hành bất tử của Thâm Tâm chính là tác giả đã gởi tâm sự vào đó trong bữa rượu tại nhà Lê văn Trương chia tay một người bạn tên là Viễn sắp đi xa. Thâm Tâm ứng khẩu đọc bài thơ đó. Cũng theo Ông Ngọc Giao thì anh chàng Viễn -một tay đồ tể khét tiếng ở lò sát sinh Lò Đúc -làm nghề chọc tiết lợn, nhưng Viễn rất yêu mến, hiểu biết về văn học, hào hiệp như một hảo hán thời Đông Chu Liệt Quốc.

Nhưng theo Ông Phạm Quang Hòa, nguyên giám đốc Sở thông tin Liên khu Việt Bắc thì Thâm Tâm viết bài thơ nầy là để tặng ông, ngày ông tìm lên chiến khu. Trước lúc ra đi, ông có mời 3 người bạn thân là: Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, và Thâm Tâm đến uống rượu tiễn. Mỗi người làm một bài thơ tặng ông. Thâm Tâm làm bài Tống Biệt Hành. Nguyễn Bính có bài Chia Tay, còn Trần Huyền Trân thì ông không nhớ.

Trong bài Tống Biệt Hành có một số người phụ nữ được nhắc đến, đó là hai người chị của ông, (một chị dâu, một người bạn gái của chị dâu) và cô em gái chính là người yêu của ông lúc đó mới 16 tuổi.

Ba người nầy khiến cho ta thấy có chổ không ổn. Từ trước tới nay, đọc Tống Biệt Hành, ai cũng hiểu rằng: hai chị và em gái nói trong bài là hai chị em ruột của người ly khách... Trường hợp của ông Phạm Quang Hòa thì một là chị dâu, một là bạn của chị dâu (xa lắc) một là người yêu chưa cưới, thì đâu phải là người trong gia đình, đâu phải là ruột thịt để mà có một mối tình thâm sâu như thế.?

Điều này rất đáng ngờ, và ly khách mãi mãi vẫn là ẩn số như T.T.Kh. vậy.

Theo nhà thơ Vũ Cao thì Thâm Tâm có nước da đen sạm, người gầy gò, nét mặt lạnh lùng đến khắc khổ, Trong sinh hoạt hằng ngày, ông là người kín đáo, ít nói.

Vậy con người lạnh lùng khắc khổ ấy có biết yêu không? Có đấy. Bài thơ đầu tiên của Thâm Tâm là một bài thơ tình, nhan đề: "Đây cảnh cũ, đâu người xưa?" (1941) do bà Oanh, chị của Thâm Tâm đọc lại. Bài thơ nầy Ông ký bút hiệu Trăm Năm. Theo đó, thì Ông gởi gắm mối tính đầu cho một thiếu nữ tên Trinh:

Gặp Trinh trong bóng xuân đào.
Đang khi quãng gió, dạt dào chim ca.
Má hồng, hồng đượm hương hoa.
Rung rinh đọng, giọt phấn nhòa sương rơi....


Bài thơ cứ thế kéo dài 22 câu lục bát. Chắc chắn mối tình nầy không thành, nhưng cũng không ai biết cô Trinh nói trong bài là ai?

Năm 1939 Tiểu thuyết Thứ Bảy đăng 3 bài thơ:
1/ Hai sắc hoa ty gôn.
2/ Bài thơ thứ nhất.
3/ Bài thơ cuối cùng. Tất cả đều ký bút hiệu T. T. Kh. khiến dư luận xôn xao trong làng văn.

Mọi người đồn đãi rằng T.T. Kh. là người yêu của Thâm Tâm. Nhưng bà Kim Chi, một người bạn cố tri của Thâm Tâm cho hay thơ T.T.Kh.là do Thâm Tâm làm. . Rồi một người khác, trên đường hành quân cùng Thâm Tâm đã hỏi ông, và người này cũng khẳng định mấy bài thơ ký T.T.Kh. là một cái tên không có thật. Nhà nghiên cứu văn học Hoài An, trong một bài báo, cũng cho những bài thơ ký T.T.Kh. là thơ của Thâm Tâm. Như thế là đã rõ.

Thơ Ông có vẻ bi tráng, mang hơi hướng cổ phong và hào hùng như các tráng sĩ thời xưa. Sau Cách Mạng, thơ ông có chuyển hướng, sát thời cuộc hơn như bài: Chiều mưa đường số 5, được nhiều người khen ngợi.


Theo nhà báo lão thành Trúc Kỳ, người đồng đội của Thâm Tâm, cũng làm báo Vệ Quốc ngày đó, thí năm 1950, khi ở Trung Quốc về, Ông nhận được điện, phải đến gấp cơ quan ở một bản nhỏ, dưới chân đèo Mã Phục, gần thị trấn An Lại, cách thị xã Cao Bằng 18 cây số về phía Bắc. Ông được lệnh về thay Thâm Tâm lúc ấy đang ốm nặng.

Sáng hôm sau, ông lên đường đền chổ Thâm Tâm, cách đò hơn 30 cây số nữa. Chiến dịch Cao Lạng đang được chuẩn bị rất khẩn trương. Thâm Tâm nằm giữa một cái lán, bốn bề trống huếch, trống hoác, lộng gió như ở ngoài đồng. Thâm Tâm hoàn toàn khác hẳn. Ông sốt rất cao, đôi má lõm sâu, da mặt vàng khè, mắt càng vàng hơn dưới đôi quầng thâm xịt. Trúc Kỳ ôm choàng lấy Thâm Tâm mà khóc.

Thấy không thể để như vậy được, Trúc Kỳ liên hệ với địa phương, xin hai dân công đến cáng Thâm Tâm về An Lại để có phương tiện chạy chữa hơn. Đoàn rời bản Piềng lúc hơn 5 giờ chiều. Họ đi suốt đêm, gần sáng thì đến An Lại. Bỗng một người dân quân hốt hoảng gọi to: Mân thai gia lố. ! (Nó đã chết rồi) .

Trúc Kỳ rụng rời tay chân, Biết làm thế nào bây giờ? . Đồng bào thiểu số có tục không cho mang người chết vào nhà. Biết người Bí thư chi bộ là người tiến bộ, ông Võ Bá Tải phụ trách hành chánh quản trị đến thăm dò ý kiến rồi chạy về nói: Đồng chí bí thư đúng là người hiếm thấy. . Đồng chí bảo cứ đưa anh Thâm Tâm vào nhà, đặt nằm trên sàn, và buông màn xuống coi như đang ngủ, đến sáng rã mới loan tin chết.

Lát sau, người chủ nhà lặng lẽ hạ tất cả bộ cửa gỗ xuống, rồi một mình hì hục đục đục cưa cưa, anh đóng cỗ áo quan cho Thâm Tâm!

Trúc Kỳ và các bạn mặc quần áo cho Thâm Tâm, nhìn mặt ông lần cuối, bó chặt ông bằng tấm chăn mới, khênh ông đặt vào quan tà rồi đậy nắp ván lên. Thân nhân không có ở đây, chỉ có đồng chí, bạn bè tiển đưa ông đến nơi an nghĩ cuối cùng ở chân đèo Mã Phục.

Ngày 17/8 /2000 Gia đình anh Nguyễn Tuấn Khoa -con trai của nhà thơ Thâm Tâm -cùng với đoàn làm phim Đài truyền hình VN về thăm Cao Bằng, nơi đã an táng Thâm Tâm gần 50 năm về trước. Nhưng mộ của Thâm Tâm đã được UBND huyện Quảng Hòa qui tập về nghĩa trang của huyện từ những năm 60. Nghĩa trang đã thay đổ địa điểm 4 lần, Ông Chủ tịch huyện Quảng Hòa: Nông Vĩnh Trung cho biết: Lúc qui tập phần mộ các liệt sĩ về nghĩa trang thì cũng chỉ đánh số và vẽ lại sơ đồ. Nào ngờ tháng 2 /1979, kho tài liệu lưu trữ của huyện đặt tại một hang đá đã bị đốt phá sạch, trong đó có sơ đồ mộ liệt sĩ. Bây giờ ở nghĩa trang, riêng khu mộ liệt sĩ chống Pháp gồm 151 ngôi, chỉ một ngôi duy nhất có tên, còn lại đồng loạt ghi dòng chữ: Liệt sĩ chống Pháp. Phần mộ Thâm Tâm cũng "vô danh " trong số 150 ngôi còn lại.

Đoàn tìm đến nhà người bí thư năm xưa, đã giấu vợ con cho phép đưa thi hài Thâm Tâm vào nhà và tháo cửa gỗ để đóng quan tài cho Thâm Tâm. Ông đã mất từ lâu, chỉ còn người cháu nội giúp phát hiện ra vũng đất trũng vốn là ngôi mộ của nhà thơ Thâm Tâm, nay cỏ mọc xanh um, vẫn được bà con hương khói, giữ gìn chu đáo.

Sau khi đặt mâm lễ, hoa quả. Thắp hương xong, vợ chồng anh Ngụy6n4 Tuấn Khoa xin phép bà con dân bản lấy một nắm đất gói vào vuông vải điều để mang về thờ. Bầu không khí lặng lẽ, trang nghiêm và cảm động vô cùng. ....

Huyền Viêm. KTNN số 505.


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI