Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
Đăng Nhập Đăng ký Trợ giúp Thành viên Tìm kiếm Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng

NHẠC SĨ PHẠM DUY và Đôi điều ,ngày ấy .....

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Ba 9 30, 2008 12:08 pm    Tiêu đề: NHẠC SĨ PHẠM DUY và Đôi Ä‘iều ,ngày ấy ..... Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

NHẠC SĨ PHẠM DUY và Đôi điều ,ngày ấy .....


(Về một số Ca khúc mới được phép phổ biến của Nhạc Sĩ Phạm Duy .
Nhạc sĩ Phạm Duy đã về lại quê hương ,những ngày cuối tháng 7.
Cục Nghệ thuật biểu diễn ký quyết định cho phép phổ biến trên toàn quốc 9 ca khúc của Ông gốm :

1/ Bà mẹ Gio Linh.
2/ Tình ca .
3/ Nương chiều .
4/ Áo anh sứt chỉ đường tà (Thơ Hữu Loan ).
5/ Ngậm ngùi (Thơ Huy Cận )
6/ Mộ Khúc (Thơ Xuân Diệu )
7/ Thuyền Viễn Xứ (Thơ Huyền Chi )
8/ Ngày trở về .
9/ Quê nghèo.

Qua những trang Hồi ký của Ông ,xin kể lại với độc giả đôi điều về lai lịch một số nhạc phẩm nói trên .

Khúc hát Nương Chiều.

Giai đoạn tham gia kháng chiến, Phạm Duy gặp nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát ở Bắc Kan, ông mô tả nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát hơi gầy gò, chân đi đôi giày to tổ bố. Phạm Duy rất thích một số bản nhạc của Nguyễn Xuân Khoát như: Tiếng chuông nhà thờ và đặc biệt là bài :Gọi nghé (Viết năm 1947 ),nó đẹp như một bức tranh sơn cước, Phạm Duy rất thích câu "a be nghé ơi ... "nghe như tiếng gọi của đồi nương ban chiều và sau nầy khi viết nhạc phẩm Nương Chiều ông đã nghĩ rất nhiều đến tiếng hát gọi nghé của nhạc sĩ Phạm Xuân Khoát (Chương 15, Hồi ký 2)

Trong thời kỳ lưu diễn ở vùng Cao- Bắc Lạng (khoảng năm 1947- 1948 ) Phạm Duy viết nên nhiều nhạc phẩm dân ca ,trong đó có Nương Chiều:
"Chiều ơi.
Lúc chiều về mọc ánh trăng tơ,
Cho ngày mùa bài hát nên thơ ,ơi chiều,
Chiều ơi, mái nhà sàn thở khói âm u
Cô nàng về để suối tương tư, ơi chiều ......
"


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Ba 9 30, 2008 12:09 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

CHUYỆN NGƯỜI MẸ GIO LINH.

Năm 1948, Phạm Duy đính hôn với Thái Hằng mà người ủng hộ nhiệt tình chính là tướng Nguyễn Sơn, vị tướng nổi tiếng tại khu bốn thời bấy giờ. Lúc ấy Phạm Duy công tác trong đoàn Văn nghệ của trung đoàn 304. Sau chuyến công tác ở Hà Tĩnh, đoàn chia làm hai nhóm. Phạm Đôn dắt một nửa trở ra Bộ tư lệnh quân khu bốn. Phạm Duy cùng Bửu Tiến, Ngọc Khanh, Vĩnh Cường và một số đội viên khác đi về phía Nam, vào vùng đất Bình -Trị -Thiên khói lửa. Qua một vài nơi thuộc Quảng Bình, đoàn của Phạm Duy theo đường núi đến Quảng Trị . Vì dưới đồng bằng bấy giờ quân Pháp xây rất nhiều đồn canh ,ban ngày cho quân lùng sục các làng mạc để khủng bố dân chúng, ban đêm lính Pháp ở trong đồn bắn ra bừa bãi. Sau khi ở trên núi vài ngày ,nhóm của Phạm Duy đề nghị với chính quyền địa phương cho xuống đồng bằng và một địa danh đã đi vào nhạc phẩm để đời của Phạm Duy đó là một ngôi làng thuộc huyện Gio Linh .

Khi đến làng thì dân chúng không muốn tiếp xúc vì họ tưởng nhầm là những người cộng tác với Pháp ( dân làng mới vừa bị quân Pháp đến khủng bố ) Sau khi biết được đoàn Văn nghệ do Tỉnh ủy phái đến họ mới đón tiếp và kể cho nghe câu chuyện về 12 người mẹ. Trước đó, lính Pháp đi tuần, và bị vướng mìn, ăn đạn du kích làm chết một số tên. Chúng đã kéo tới làng để trả thù. Chúng tập trung dân làng lại và thấy 12 bà mẹ bế trên tay 12 đứa con thơ. Chúng bắt dân làng phải khai ra nơi trú ẩn của du kích vừa gây thiệt hại cho chúng nếu không chúng sẽ giết 12 người mẹ nầy, Vì không ai chịu khai cả cho nên chúng lôi 12 người mẹ đang bồng con thơ đó ra bờ sông, và ra lệnh cho 12 người mẹ ném con của họ xuống nước. Tất nhiên không ai làm theo cái lệnh dã man đó, vì vậy chúng đã bắn chết 12 người mẹ cùng con của họ. Ngoài chuyện 12 người mẹ đã hy sinh ,dân làng còn kể cho Phạm Duy nghe câu chuyện của một bà mẹ ở làng kế bên, có người con tham gia kháng chiến bị bắt, chặt đầu treo giữa chợ. Không ai dám lấy đầu của anh xuống. Chỉ riêng người mẹ của anh dám đến bỏ đầu của con vào khăn mang về chôn cất. Nghe xong câu chuyện ,Phạm Duy nhờ anh dân quân đưa đến gặp người mẹ đó. Là một người đàn bà với khuôn mặt nhăn nheo ,khắc khổ, nhưng lúc ấy Phạm Duy cảm ở bà nét đẹp như một vị thánh. Phạm Duy viết trong hồi ký rằng:Tôi đã rợn người khi nghe bà kể về câu chuyện của bà bằng một giọng nói rất bình thản. Rồi bà dẫn tôi đi qua một rặng tre để ra tới chợ, là nơi ngày nào bà đã tới lấy đầu con đem đi chôn ... . Tôi trở về nằm lăn trên một cái giường nứa ở một cánh rừng không tên trên chiến khu Quảng Trị, tôi đã khóc rưng rức và rồi ngồi dậy viết ra những câu ca đầu tiên của bài hát . Lúc đó, tôi nghĩ đến mẹ tôi . "

Câu chuyện về Bà mẹ Gio Linh được Phạm Duy kết rằng: Sau khi hy sinh người con độc nhất cho kháng chiến, bà mẹ sẽ có hàng trăm người con nuôi là bộ đội .



Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
THAINGO-A1
Moderator
Moderator


Ngày tham gia: 08 8 2008
Số bài: 3616

Bài gửiGửi: Tư 10 01, 2008 7:53 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

TÔI YÊU TIẾNG NƯỚC TÔI.

NĂm 1949 Phạm Duy cưới Thái Hằng, giấy hôn thú ghi tên đầy đủ của bà là Phạm Thị Quang Thái. Đám cưới tổ chức tại chợ Neo, Thanh Hóa. Đến dự đám cưới có tướng Nguyễn Sơn, chính trị viên Nguyễn Kiện, văn sĩ Nguyễn Đức Quỳnh, kỹ sư Nguyễn Dực, con của nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh ...

Sau đám cưới Phạm Duy được nghĩ ngơi hoàn toàn, để hưởng tuần trăng mật. Một buổi tối, trăng sao vằng vặc, hai vợ chồng son đi dạo bên nhau trên con đường quê yên tĩnh. Phạm Duy ước mong kháng chiến sớm thành công, để ông đưa người vợ yêu quý về khoe với Mẹ. Mẹ ông lúc ấy ở Hà Nội. Tác phẩm Ngày trở về đã lung linh ẩn hiện trong tâm thức ông ngay đêm đó.

Năm 1951 Phạm Duy và gia đình vào định cư ở Sài Gòn, trong một căn nhà nhỏ gần chợ khu vực Thị Nghè. Ông cộng tác với Đài Phát thanh Pháp -Á và thành lập Ban nhạc Thăng Long, với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh (Băng Thanh) Thái Hằng... Bản nhạc Tình Ca được Phạm Duy viết trong giai đoạn nầy. Đó là thời kỳ mà Ban nhạc Thăng Long rất được khán giả ái mộ. Lương của đài Pháp -Á cũng rất cao, 1200 đồng/tháng trong khi một bao gạo 100kg chỉ có 80 đồng, . Ngày ấy, không chỉ ghi đĩa, hát cho đài phát thanh mà Phạm Duy còn cùng với quái kiệt Trần Văn Trạch, Lê Thương cùng cộng tác lối hát phụ diễn trước khi chiếu phim.

Nhóm các ông trình bày những chương trình tạp lục như đơn ca, hợp ca, ca hài hước... trước khi chương trình chiếu phm bắt đầu. Bản Tình Ca được Ca Sĩ Anh Ngọc hát lần đầu tiên tại rạp Thanh Bình:
“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời, ạ à ơi tiếng ru muôn đời...
”

Bài Tình Ca rất được mọi người yêu thích, nói đến quê hương, đất nước, con người, giọng nói. Cũng giai đoạn nầy, Huyền Chi một cô gái bán vải ở chợ Bến Thành, tác giả bài thơ Thuyền Viễn Xứ trao tặng bài nầy cho Phạm Duy phổ nhạc.

Những ngày cuối năm 1953, Phạm Duy qua con đường Âm nhạc đã tích lũy một lưng vốn để ung dung đi du học (1954) . Thời ấy, do nhiều yếu tố không chỉ thuần túy kinh tế nên 1 đồng Dông dương có mệnh giá tương đương với 17 France (gấp đôi hối suất thông thường) . Ông đã gởi được nhiều đồng France qua Pháp và quyết định một chuyến viễn du.

Từ Sài Gòn ông đáp tàu La Marseillaise đến cảng Marseille nước Pháp. Những giờ phút trên tàu, tình hoài hương chợt đến để Phạm Duy soạn ra một bài hát với ý tưởng lãng du và tinh thần dân ca, đó là: Ngày trở về;
"... Ngày trở về, anh bước lê
Trên quảng đường đê đến bên lũy tre
Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè
Cười đón người về....
”

Nhạc sĩ Phạm Duy là người đa đoan, đa tài và dĩ nhiên..... đa tình. Cái hay là Ông bộc trực, thẳng thắn trong những trang hồi ký. Ông kể về vết thương lòng thời tuổi 30... , về cô gái hai dòng máu Việt -Anh, về những điều làm bất cứ con người nào cũng biến thành niềm xúc cảm nếu được chút máu văn nghệ trong người hay xét cho cùng là con người đích thực. Tứ Helene (Hệ Liên) , rồi Alice là những tình yêu cao thượng.”Đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh...”. Giai đoạn ấy, một người bạn của Phạm Duy gởi từ Pháp về một bài thơ mà chắc rằng ông đã phổ thành nhạc (Thời ấy Phạm Duy cũng phổ rất nhiều bài thơ. Thành công nhất, có lẽ là bài Ngậm Ngùi, phổ thơ Huy Cận.

Ông ghi trong Nhật ký rằng: Ngậm ngùi đã từng được nhạc sĩ Lê Thương cảm nhận và phổ nhạc từ những năm 1943-1944 và đặt tên là ;Tiếng Thùy Dương. Rất tiếc, thời ấy không được nhiều người biết đến. . Phạm Duy thì may mắn hơn. (hay người yêu nhạc may mắn ?)

Ngậm Ngùi khi được Ông phổ nhạc năm 1961, qua tiếng hát Anh Ngọc, rồi đến Ca Sĩ Lệ Thu đã được công chúng đón nhận say mê. Ngậm Ngùi là một bài thơ giao thoa giữa Đường thi và lục bát VN. Nhiều thế hệ đã bị chinh phục khi nghe:
“Nắng chia nửa bãi chiều rồi
Vườn hoang trinh nữ, xếp đôi lá rầu (sầu ?)
..........
Ngủ đi em, mộng bình thường
Ru em sẵn tiếng thùy dương đôi bờ
Ngủ đi em, ngủ đi em....
”

Năm 2000, trong một lần về nước Phạm Duy đã tặng Huy Cận một CD đặc biệt ghi âm bản nhạc Ngậm Ngùi qua 16 giọng hát khác nhau làm Huy Cận rất cảm động.

Theo TẠ XUÂN QUAN (Kiến Thức Ngày Nay số 540)


Về Đầu Trang
Xem lý lịch thành viên Gửi tin nhắn
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng » Góc phố sưu tầm Thời gian được tính theo giờ EST (U.S./Canada)
Trang 1 trong tổng số 1 trang

 
Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn


Powered by SaoMaiDaNang © Nho'm SaoMai DaNang
Designed for SaoMaiDanang - Nam cuoi cung cua truong SAO MAI